Chi tiết tin - Hội Nông dân tỉnh Quảng Trị
VĂN BẢN MỚI
WEBSITE SỞ NGÀNH
Thống kê truy cập
Số lượng và lượt người truy cập
-
Online 1
-
Hôm nay 141
Tổng 3.468.360
Chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, hợp tác xã, tổ hợp tác, mô hình ứng dụng công nghệ cao
Ông Nguyễn Văn Đông, xã Lê Hóa, huyện Tuyên Hóa hỏi:
Tỉnh ta có những giải pháp và cơ chế chính sách gì trong việc khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp, các mô hình ứng dụng công nghệ cao theo hướng hữu cơ.
Ủy ban nhân dân tỉnh trả lời:
Ý 1: Giải pháp và cơ chế chính sách trong việc khuyến khích phát triển kinh tế trang trại, tổ hợp tác, HTX nông nghiệp:
- Đối với HTX nông nghiệp, Tổ hợp tác: Để khuyến khích phát triển HTX nông nghiệp, trên cơ sở các văn bản, chính sách của Trung ương, tỉnh đã ban hành nhiều giải pháp và cơ chế chính sách để khuyến khích phát triển kinh tế hợp tác, HTX nông nghiệp, bao gồm: Nghị quyết số 59/2019/NQ-UBND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh về quy định chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Bình; Kế hoạch số 1326/KH-UBND ngày 22/7/2022 của UBND tỉnh về phát triển HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2022-2025; Kế hoạch số 2232/KH-UBND ngày 02/11/2023 của UBND tỉnh về Phát triển HTX nông nghiệp trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đến năm 2025. Theo đó thời gian qua Tỉnh, Sở Nông nghiệp và PTNT, các sở ngành liên quan, các địa phương đã triển khai thực hiện và đã có nhiều HTX được hưởng các chính sách hỗ trợ như: Hỗ trợ thành lập mới HTX; hỗ trợ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các HTX (thông qua tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng, thăm quan, học tập kinh nghiệm tại các tỉnh hàng năm); Hỗ trợ HTX ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới; XTTM, mở rộng thị trường; Hỗ trợ HTX phát triển liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm,…Nhờ những nguồn kinh phí hỗ trợ mà khu vực kinh tế tập thể, HTX trong nông nghiệp đã có những bước phát triển mới, không chỉ về số lượng mà cả chất lượng. Thời gian tới, Tỉnh sẽ tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế hợp tác, trong đó ưu tiên hỗ trợ các HTX đầu tư ứng dụng máy móc, thiết bị, công nghệ vào sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Vì vậy, đề nghị các HTX nghiên cứu, nắm bắt để biết và đề xuất hỗ trợ khi có nhu cầu.
- Đối với Kinh tế trang trại: Ngày 28/02/2020 Bộ Nông nghiệp và PTNT ban hành Thông tư 02/2020/TT-BNNPTNT về Quy định tiêu chí kinh tế trang trại. Để phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo triển khai thực hiện một số cơ chế chính sách như: trong Chương trình phát triển chăn nuôi của UBND tỉnh đã ban hành một số cơ chế chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức cá nhân các cơ chế chính sách về giao đất, thuê đất và các chính sách ưu đãi, giết mổ tập trung và cơ sở chế biến nguyên liệu thức ăn chăn nuôi áp dụng công nghệ cao, công nghệ tiên tiến, công nghệ mới…. Khuyến khích người dân chuyển đổi đất trồng cây kém hiệu quả sang thâm canh trồng cỏ và các cây nguyên liệu thức ăn chăn nuôi bằng các giống năng suất cao, giàu dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển chăn nuôi đàn gia súc ăn cỏ. Mặt khác, Sở Nông nghiệp và PTNT triển khai một số chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại như: hỗ trợ các chủ trang trại đầu tư mua sắm máy móc thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh, hỗ trợ lắp đặt bể bioga xử lý chất thải chăn nuôi…. một số địa phương cũng đã triển khai hỗ trợ cơ sở phát triển chăn nuôi theo hình thức trang trại theo Nghị định số 13/2020/NĐ-CP của Chính phủ như: hỗ trợ trang trại chăn nuôi lợn, Hỗ trợ trang trại chăn nuôi bò lai được xây dựng tại địa điểm quy hoạch của UBND xã, thị trấn, có quy mô đàn lớn,…
Hiện nay, Bộ Nông nghiệp và PTNT đang dự thảo Nghị định về chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại nông nghiệp. Sau khi Nghị định được ban hành, UBND tỉnh sẽ chỉ đạo, hướng dẫn ban hành cơ chế, chính sách ưu đãi cụ thể để hỗ trợ phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn tỉnh.
Ý 2: Giải pháp và cơ chế chính sách trong việc khuyến khích phát triển các mô hình ứng dụng công nghệ cao theo hướng hữu cơ:
Xác định công nghệ cao là khâu đột phá, tạo động lực để người sản xuất đẩy mạnh đầu tư công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, tăng năng suất lao động, thời gian qua, các cấp, các ngành đã chú trọng triển khai thực hiện cơ chế, chính sách của Nhà nước về phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC. Trong đó định hướng cụ thể cho người dân, doanh nghiệp/ HTX:
- Phát triển nông nghiệp công nghệ cao (NNCNC) gắn với khai thác tiềm năng, lợi thế tài nguyên trên địa bàn tỉnh, trên các loại cây trồng, vật nuôi có thế mạnh, các đối tượng là sản phẩm nông nghiệp chủ lực. ví dụ: Lĩnh vực trồng trọt: lúa, ngô, lạc, khoai lang, rau hoa quả, cây ăn quả, cây dược liệu, nấm ăn và nấm dược liệu. Lĩnh vực chăn nuôi: bò thịt, lợn thịt, gà thịt, gà đẻ trứng, vịt thịt, vịt đẻ trứng. Lĩnh vực thủy sản: tôm nuôi, cá nuôi các loại,...
- Phát triển NNCNC gắn với thực hành nông nghiệp tốt, áp dụng các quy trình sản xuất an toàn, theo hướng hữu cơ nâng cao chất lượng, giá trị và sức cạnh tranh sản phẩm; ứng dụng các quy trình mới nâng cao chất lượng sản phẩm, nhãn mác thông tin sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường; ứng dụng nền tảng số trong kết nối cung-cầu, tiếp cận và tham gia các sàn thương mại điện tử, các kênh bán hàng online,…mở rộng thị trường.
*Về một số chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp CNC, NNHC
Tuy chưa có Bộ cơ chế, chính sách riêng nhưng địa phương đã có nhiều văn bản chỉ đạo, đưa ra các giải pháp, ưu tiên bố trí nguồn lực để triển khai, thực hiện các cơ chế, chính sách của Trung ương; đồng thời tăng cường các nguồn lực, lồng nhiều chính sách đặc thù của tỉnh để hỗ trợ cho phát triển NN ứng dụng CNC, NNHC như: Ưu tiên bố trí nguồn lực đảm bảo thực Nghị định 57/2018/NĐ-CP, Nghị quyết số 58/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 và Nghị quyết số 59/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh Quy định về chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và Quy định về chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp… Hàng năm, từ nguồn chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và thủy sản (40-50% trên tổng kinh phí) để hỗ trợ sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC, NNHC… Nhờ đó, số lượng cơ sở ứng dụng CNC tăng nhanh. Hiện nay toàn tỉnh có 217 cơ sở sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC, trong đó tỷ lệ cơ sở chăn nuôi và thủy sản tăng nhiều và đặc biệt đã có các cơ sở sản xuất, chế biến ứng dụng CNC. (Trồng trọt: 98, chăn nuôi: 67, thủy sản:39; lâm nghiệp:3, chế biến:10). Đến nay có 65 cơ sở đã được chứng nhận VietGAP hoặc ATTP: Trồng trọt 46, chăn nuôi 15. Thủy sản 3, lâm nghiệp 1; Có 40 HTX ứng dụng công nghệ cao, chiếm 12%/tổng số HTX nông nghiệp;
Năm 2024, ngành Nông nghiệp và PTNT tiếp tục chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trong Kế hoạch số 481/KH-UBND ngày 30/3/2020 của UBND tỉnh về việc thực hiện phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC giai đoạn 2020-2025, trong đó chú trọng: rà soát quỹ đất, thực hiện dồn điền đổi thửa, tích tụ đất nông nghiệp để bố trí vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC; ưu tiên bố trí nguồn lực phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ, đáp ứng các yêu cầu cần thiết về điện, nước, đường giao thông… tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đến đầu tư thực hiện dự án phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC, tạo điều kiện thuận lợi trong giao đất, cấp GCNQSDĐ cho doanh nghiệp đầu tư phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC trên một số đối tượng cây trồng, vật nuôi có lợi thế. Đẩy mạnh các hoạt động thu hút doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn; ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích đầu tư vùng/khu, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC. Thúc đẩy các hoạt động KHCN phục vụ sản xuất, ứng dụng hiệu quả công nghệ mới tạo động lực về lợi ích để thúc đẩy KHCN gắn bó với sản xuất, kinh doanh, hướng vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh của từng sản phẩm.
* Giải pháp chủ yếu thời gian tới
Tiếp tục chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ, giải pháp trong Kế hoạch 481/KH-UBND, trong đó tập trung 4 giải pháp trọng tâm:
- Công tác quy hoạch: + Rà soát quỹ đất, dành đất cho xây dựng vùng/khu nông nghiệp ứng dụng CNC, gắn với nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp sạch... vùng nguyên liệu cây trồng, vật nuôi chủ lực của tỉnh. Trong đó, ưu tiên xác định được đối tượng cây trồng, vật nuôi, quy mô diện tích, địa điểm, loại công nghệ áp dụng… phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của từng vùng, từng địa phương. Ví dụ: Đối với vùng cát, ven biển: Tập trung phát triển nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi ứng dụng CNC; Đối với các vùng thấp, trũng, đồng bằng: Tập trung phát triển cánh đồng lớn, hình thành vùng sản xuất lúa gạo, rau quả chất lượng ƯDCNC, các vùng trũng sâu chuyển đổi sang trồng sen kêt hợp nuôi trồng thủy sản. Đối với vùng gò đổi: ưu tiên phát triển vùng cây ăn quả ứng dụng CNC, chuyển đổi các vùng không chủ động nước sang các trang trại nông-lâm kết hợp gắn với du lịch sinh thái, phát triển cây dược liệu, lâm nghiệp,…
+ Việc quy hoạch, xác định các quỹ đất cho các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng CNC gắn với việc đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện… là yếu tố quyết định đến thu hút đầu tư của DN.
- Về công nghệ: + Với điều kiện kinh tế còn khó khăn nên việc tập trung ứng dụng thành tựu, các nghiên cứu nhất là giống mới, chế phẩm, quy trình công nghệ mới vào sản xuất là lựa chọn tối ưu, khả thi và mang lại hiệu quả nhanh trong sản xuất. Trước mắt, tập trung trung ứng dụng chuyển giao nhanh các giống mới năng suất, chất lượng, thích nghi vào sản xuất trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, lâm nghiệp,...
+ Nhân rộng các mô hình chăn nuôi lợn an toàn sinh học, mô hình chăn nuôi sử dụng đệm lót sinh học; Ứng dụng chế phẩm vi sinh xử lý phế phụ phẩm hữu cơ trong nông nghiệp thành phân bón hữu cơ; ứng dụng chế phẩm sinh học trong quy trình chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản nhằm giải quyết vấn đề môi trường nuôi và nâng cao hệ số sử dụng thức ăn chăn nuôi, tăng sức đề kháng cho vật nuôi, hạn chế sự phát sinh, lây lan của dịch bệnh.
- Về nguồn nhân lực: + Phát triển nguồn nhân lực đủ về số lượng và chất lượng, lấy doanh nghiệp là hạt nhân; HTX, người sản xuất, nông dân là trung tâm; nông thôn làm nền tảng. Tăng cường công tác đào tạo tay nghề (ngắn hạn và thường xuyên) cho các doanh nghiệp, nông dân về kiến thức CNC trong sản xuất, tiêu thụ, xây dựng thương hiệu, nắm bắt kịp thời những biến động của thị trường để điều chỉnh cơ cấu sản xuất, công nghệ phù hợp….
+ Các chương trình đào tạo nghề cần tập trung vào việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên nguồn lực trẻ ở nông thôn; hợp tác với các Tổ chức/Doanh nghiệp/Tập đoàn lớn để đào tạo một đội ngũ nhân lực nông nghiệp đáp ứng với yêu cầu mới.
- Về thị trường và chính sách: + Phát huy liên kết giữa các “nhà”: Nhà nước-Nhà khoa học-Nhà Nông-Nhà Doanh nghiệp-Nhà Băng-Nhà Báo, gắn sản xuất với chế biến tiêu thụ, mở rộng thị trường, hình thành chuỗi sản xuất bền vững. Với quy mô sản xuất nhỏ lẻ như hiện nay, thúc đẩy mối liên kết giữa các hộ nông dân thông qua việc thành lập HTX; HTX liên kết với doanh nghiệp trong cung cấp yếu tố đầu vào, đầu ra... là hình thức liên kết phù hợp với điều kiện tỉnh nhà.
+ Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại: Hỗ trợ các cơ sở, doanh nghiệp quảng bá, giới thiệu sản phẩm thông qua các hình thức như: Sàn giao dịch, chợ thương mại điện tử, triển lãm... Tăng cường kết nối, xúc tiến thương mại giữa các tỉnh, thành phố trong khu vực. Tập trung xây dựng một số thương hiệu, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý sản phẩm cây trồng, vật nuôi chủ lực, sản phẩm OCOP...
+ Tiếp tục tuyên truyền, tổ chức thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, nông nghiệp CNC của Trung ương, của tỉnh như: Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; Nghị quyết 30/NQ-CP ngày 07/3/2017 của Chính phủ về chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng CNCNghị quyết số 58/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 và Nghị quyết số 59/2019/NQ-HĐND ngày 12/12/2019 của HĐND tỉnh về Quy định về chính sách đặc thù khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và Quy định về chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp;
+ Rà soát, bổ sung kịp thời các chính sách hỗ trợ, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp ứng dụng CNC, sản xuất hàng hóa theo chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm.
Các tin khác
- Về phân bổ kinh phí cho Hội Nông dân thực hiện Quyết định 673/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ (10/10/2024)
- Về cấp kinh phí hoạt động cho các tổ chức chính trị - xã hội cấp xã (10/10/2024)
- Chính sách hỗ trợ khi chuyển đổi đất trồng lúa (10/10/2024)
- Về giá bồi thường công trình phục vụ nhà ở (10/10/2024)
- Về hỗ trợ tiền khai hoang ở xã Vạn Ninh (10/10/2024)
- Hỗ trợ xây dựng thương hiệu sản phẩm OCOP (10/10/2024)
- Về hỗ trợ hợp tác xã nông nghiệp (10/10/2024)
- Về định hướng các loài cây trồng trên địa bàn tỉnh (10/10/2024)
- Về áp dụng công nghệ mới trong nuôi hàu ở thị trấn Quán Hàu (10/10/2024)
- Về ô nhiễm môi trường tuyến đường thị trấn Nông Trường Lệ Ninh đi Ngân Thủy (10/10/2024)